30/06/2021 10:46
Xem với cỡ chữ

Nghiên cứu phương pháp hồi quy tuyến tính đơn giản đánh giá tác động của vốn tín dụng Nhà nước đến phát triển KT-XH tỉnh Kiên Giang

Nguyễn Phước Tài, Chi nhánh NHPT Kiên Giang (Bài đạt giải Ba - Cuộc thi viết về 15 năm thành lập NHPT)
Vốn tín dụng của Nhà nước thông qua Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) có vai trò quan trọng trong quá trình sử dụng và khai thác các nguồn vốn trong xã hội để đầu tư các dự án phát triển và tài trợ vốn lưu động cho các ngành, các vùng, các sản phẩm trọng điểm; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khai thác những tiềm năng to lớn của đất nước nói chung và tỉnh Kiên Giang nói riêng cho sự nghiệp CNH-HĐH; đáp ứng vốn cho nhu cầu đầu tư phát triển của các doanh nghiệp nhằm góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu để phát triển KT-XH. 
Nhưng tăng trưởng và phát triển KT-XH không chỉ phụ thuộc vào quy mô vốn dành cho đầu tư phát triển nhiều hay ít mà quan trọng hơn phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng lượng vốn đầu tư này. Nếu dự án và phương án sử dụng vốn tín dụng này có chất lượng kém, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được, hoạt động thua lỗ... sẽ dẫn đến không có khả năng hoàn trả vốn vay tín dụng, tức là hoạt động vốn tín dụng của Nhà nước không có hiệu quả và ngược lại. Mặt khác, hiệu quả hoạt động vốn tín dụng của Nhà nước còn chưa cao, đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng chưa tương xứng so với yêu cầu phát triển KT-XH của đất nước nói chung và tỉnh Kiên Giang nói riêng trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. 
Thực tế trên đây, đòi hỏi phải triển khai những giải pháp đồng bộ để nâng cao hiệu quả hoạt động vốn tín dụng của Nhà nước để trở thành công cụ đắc lực cho Chính phủ nhằm đạt được mục tiêu phát triển KT-XH bền vững cho đất nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Kiên Giang nói riêng.
Đối tượng nghiên cứu
Vốn tín dụng của Nhà nước được thể hiện trong nghiên cứu này là dư nợ vay của các loại hình tín dụng như: Tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu, cho vay thí điểm (xúc tiến), cho vay lại từ vốn ODA, hỗ trợ sau đầu tư và cho vay ủy thác từ ngân sách địa phương. Đồng thời, xem xét vốn tín dụng của Nhà nước tại VDB có tác động như thế nào đến các chỉ tiêu chủ yếu phát triển KT-XH bao gồm: GDP, tổng vốn đầu tư xã hội, lao động, kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính đơn giản để đánh giá tác động của yếu tố vốn tín dụng của Nhà nước đến các chỉ tiêu chủ yếu phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
Kết quả nghiên cứu 
1. Thực trạng triển khai vốn tín dụng của Nhà nước tai tỉnh Kiên Giang 
Trong thời gian từ năm 1998 đến năm 2020, vốn tín dụng của Nhà nước tại VDB đã được triển khai trên địa bàn tỉnh Kiên Giang với những kết quả đạt được như sau:
Biểu 1: Tổng dư nợ vay của các loại hình tín dụng từ năm 1998 đến năm 2020
Nguồn: Phòng Tín dụng - Chi nhánh NHPT Kiên Giang
Vốn tín dụng của Nhà nước trên địa bàn Tỉnh được hình thành theo 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 từ năm 1995 đến năm 2000: Hoạt động theo cơ chế của Tổng Cục đầu tư phát triển; giai đoạn 2 từ năm 2000 đến năm 2005: Hoạt động theo cơ chế của Quỹ Hỗ trợ phát triển và giai đoạn 3 từ năm 2006 đến nay: Hoạt động theo cơ chế của Ngân hàng Phát triển Việt Nam. Do cơ chế chính sách vốn tín dụng của Nhà nước thay đổi theo từng giai đoạn này nên việc cung ứng vốn tín dụng của Nhà nước cho nền kinh tế cũng ảnh hưởng ít nhiều đến sự phát triển KT-XH cho đất nước nói chung và trên địa bàn Tỉnh nói riêng. 
Từ biểu đồ trên cho thấy, vốn tín dụng của Nhà nước có sự tăng trưởng đều qua các năm. Tuy nhiên, trong thời gian từ năm 2007 đến năm 2011 do ảnh hưởng bởi suy thoái kinh tế trên thế giới và thực hiện Nghị quyết 11 của Chính phủ nên việc cung ứng vốn tín dụng của Nhà nước có xu hướng giảm xuống. Nhưng từ cuối năm 2011 đến nay, kinh tế trên thế giới và trong nước từng bước hồi phục và chính sách tiền tệ cũng từng bước được nới rộng nên việc cung ứng vốn tín dụng của Nhà nước có xu hướng tăng dần trở lại. Bên cạnh đó, trong thời gian từ năm 2017 đến năm 2020, việc cấp tín dụng có xu hướng giảm trở lại là do VDB đang trong tiến trình cơ cấu Ngân hàng và ảnh hưởng từ dịch bệnh Covid-19. Xuất phát từ thực tế đó cho thấy, khi chính sách tiền tệ và cơ chế chính sách vốn tín dụng của Nhà nước thay đổi thì việc cung ứng vốn tín dụng của Nhà nước sẽ thay đổi và ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển KT-XH của đất nước nói chung và tỉnh Kiên Giang nói riêng.
2. Các chỉ tiêu chủ yếu của phát triển KT-XH tỉnh Kiên Giang
Để đánh giá vốn tín dụng của Nhà nước có góp phần thúc đẩy phát triển KT-XH hay không, chúng ta sẽ xem xét vốn tín dụng của Nhà nước tác động đến từng chỉ tiêu chủ yếu liên quan đến phát triển KT-XH của tỉnh Kiên Giang như: Tổng vốn đầu tư của xã hội, tổng số lao động xã hội đang làm việc, tổng sản phầm (GRDP) và kim ngạch xuất khẩu.
Biểu 2: Các chỉ tiêu chủ yếu của phát triển KT-XH từ năm 1998 -2014
Nguồn: Niên giám thống kê Tình Kiên Giang và báo cáo tình hình KT-XH
Từ biểu đồ trên cho thấy, các chỉ tiêu của phát triển KT-XH có kết quả như sau:
- Tổng vốn đầu tư xã hội tăng đều qua các năm, tổng vốn đầu tư xã hội có giá trị nhỏ nhất là 1.456.793 triệu đồng, giá trị lớn nhất là 47.932.600 triệu đồng và giá trị trung bình qua các năm là 19.469.898 triệu đồng.
- Lao động xã hội đang làm việc tăng đều qua các năm, tổng số lao động xã hội đang làm việc có giá trị nhỏ nhất là 711.262 nghìn người, giá trị lớn nhất là 1.184.479 nghìn người và giá trị trung bình qua các năm là 944.664 nghìn người.
- Tổng sản phẩm (GRDP) tăng đều qua các năm, GRDP có giá trị nhỏ nhất là 6.539.679 triệu đồng, giá trị lớn nhất là 87.356.532 triệu đồng và giá trị trung bình qua các năm là 41.884.220 triệu đồng.
- Kim ngạch xuất khẩu tăng đều qua các năm, kim ngach xuất khẩu có giá trị nhỏ nhất là 540.039 triệu đồng, giá trị lớn nhất là 16.191.700 triệu đồng và giá trị trung bình qua các năm là 7.383.267 triệu đồng.
3. Đánh giá vốn tín dụng của Nhà nước tác động đến từng chỉ tiêu phát triển KT-XH của Tỉnh Kiên Giang
3.1. Đánh giá vốn tín dụng của Nhà nước tác động đến tổng vốn đầu tư của xã hội 
Nghiên cứu sẽ sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để xem xét vốn tín dụng của Nhà nước tác động đến tổng vốn đầu tư của xã hội như thế nào?
Mô hình hồi quy tuyến tính có dạng: Y1 = a0 + a1X1 + 
Với giả thiết được đặt ra: 
- H0: Vốn tín dụng không tác động đến sự gia tăng của tổng vốn đầu tư của xã hội.
- H1: Vốn tín dụng có tác động đến sự gia tăng của tổng vốn đầu tư của xã hội. 
Trong đó:
Y1: Tổng vốn đầu tư của xã hội (triệu đồng)
X1: Vốn tín dụng của Nhà nước (triệu đồng)
: Sai số (còn các yếu tố khác ảnh hưởng đến tổng vốn đầu tư của xã hội).
Bảng 1: Kết quả đánh giá vốn tín dụng của Nhà nước 
tác động đến tổng vốn đầu tư của xã hội
 
Biến độc lập Hệ số Độ lệch chuẩn P-Value
- Hằng số
 
- X1 -4.620.583,687
(-0,893)
33,531
(5,259) 5.173.672,535
 
6,376 0,38193
 
0,00003
Nguồn: Tính toán tổng hợp của tác giả
Với độ tin cậy 95%, từ kết quả mô hình hồi quy cho thấy, tổng vốn đầu tư của xã hội phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau nhưng nghiên cứu này chỉ xem xét một yếu tố vốn tín dụng của Nhà nước. Vì vậy kết quả mô hình hồi quy có dạng: 
Y1 = -4.620.583,687 + 33,531X1 + 
Ta có kết quả ước lượng R2 = 0,5684, điều này có ý nghĩa là 56,84% sự thay đổi tổng vốn đầu tư của xã hội là do vốn tín dụng của Nhà nước tác động đến.
Từ kết quả mô hình ước lượng, ta có: F = 27,655 và sigF = 0,00003 < 0,05. Điều này nói lên mô hình hồi quy này có ý nghĩa. Tức là có sự tương quan giữa tổng vốn đầu tư của xã hội và vốn tín dụng của Nhà nước.
Ngoài ra, ta có giá trị kiểm định t = 5,259 và giá trị P-Value = 0,00003 < 0,05. Điều này chứng minh, chúng ta có đầy đủ bằng chứng để bác bỏ giả thiết H0 và chấp nhận giả thiết H1. Điều này nói lên vốn tín dụng của Nhà nước có tác động đến tổng vốn đầu tư của xã hội. 
Mặt khác, với hệ số của vốn tín dụng của Nhà nước a1 = 33,531, nó có ý nghĩa là khi vốn tín dụng của Nhà nước được giải ngân làm tăng thêm dư nợ 1 tỷ đồng thì tổng vốn đầu tư của xã hội tăng lên 33,531 tỷ đồng. Điều này có ý nghĩa là vốn tín dụng của Nhà nước tác động đến tổng vốn đầu tư toàn xã hội của Tỉnh và là nguồn vốn mồi làm cho tổng vốn đầu tư của toàn xã hội ngày càng tăng góp phần tạo động lực thu hút các nguồn lực trong xã hội tham gia đầu tư để phát triển KT-XH trên địa bàn Tỉnh.
3.2. Đánh giá vốn tín dụng của Nhà nước tác động đến lao động xã hội
Nghiên cứu sẽ sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để xem xét vốn tín dụng của Nhà nước ảnh hưởng đến lao động xã hội đang làm việc như thế nào?
Mô hình hồi quy tuyến tính có dạng: Y2 = b0 + b1X1 + 
Với giả thiết được đặt ra: 
- H0: Vốn tín dụng không tác động đến sự gia tăng của lao động xã hội 
- H1: Vốn tín dụng có tác động đến sự gia tăng của lao động xã hội
Trong đó:
Y2: Tổng số lao động xã hội đang làm việc của Tỉnh (Nghìn người)
X1: Vốn tín dụng của Nhà nước (Triệu đồng)
: Sai số (còn các yếu tố khác ảnh hưởng đến lao động xã hội của Tỉnh).
Bảng 2: Kết quả đánh giá vốn tín dụng của Nhà nước tác động đến lao động xã hội
 
Biến độc lập Hệ số Độ lệch chuẩn P-Value
- Hằng số
 
- X1 725.891,262
(20,199)
0,305
(6,875) 35.937,572
 
0,044 0,00000
 
0,00000
Nguồn: Tính toán tổng hợp của tác giả
Với độ tin cậy 95%, từ kết quả mô hình hồi quy cho thấy, lao động xã hội của Tỉnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau nhưng nghiên cứu này chỉ xem xét một yếu tố vốn tín dụng của Nhà nước. Vì vậy kết quả mô hình hồi quy có dạng: 
Y2 = 725.891,262 + 0,305X1 + 
Ta có kết quả ước lượng R2 = 0,6924, điều này có ý nghĩa là 69,24% sự thay đổi lao động xã hội của Tỉnh là do vốn tín dụng của Nhà nước tác động đến.
Từ kết quả mô hình ước lượng, ta có: F = 47,268 và sigF = 0,00000 < 0,05. Điều này chứng tỏ mô hình hồi quy này có ý nghĩa. Tức là có sự tương quan giữa lao động xã hội và vốn tín dụng của Nhà nước.
Ngoài ra, ta có giá trị kiểm định t = 6,875 và giá trị P-Value = 0,00000 < 0,05. Điều này cho thấy, chúng ta có đầy đủ bằng chứng để bác bỏ giả thiết H0 và chấp nhận giả thiết H1. Điều này có nghĩa là vốn tín dụng của Nhà nước có tác động đến lao động xã hội của Tỉnh. 
Mặt khác, với hệ số của vốn tín dụng của Nhà nước b1 = 0,305, nó có ý nghĩa là khi vốn tín dụng của Nhà nước được giải ngân làm tăng thêm dư nợ 1 tỷ đồng thì có thể tạo thêm công ăn việc làm cho người dân là 305 người. Điều này có ý nghĩa là vốn tín dụng của Nhà nước tác động đến lao động xã hội của Tỉnh và làm cho lao động xã hội của Tỉnh ngày càng tăng góp phần tạo công ăn việc làm cho người dân và an sinh xã hội để phát triển KT-XH bền vững trên địa bàn Tỉnh.
3.3. Đánh giá vốn tín dụng của Nhà nước tác động đến GRDP của Tỉnh
Nghiên cứu sẽ sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để xem xét vốn tín dụng của Nhà nước ảnh hưởng đến GRDP như thế nào?
Mô hình hồi quy tuyến tính có dạng: Y3 = c0 + c1X1 + 
Với giả thiết được đặt ra: 
- H0: Vốn tín dụng không tác động đến sự tăng trưởng của GRDP
- H1: Vốn tín dụng có tác động đến sự tăng trưởng của GRDP
Trong đó:
Y3: GRDP (Triệu đồng)
X1: Vốn tín dụng của Nhà nước (Triệu đồng)
: Sai số (còn các yếu tố khác ảnh hưởng đến GRDP)
Bảng 3: Kết quả đánh giá vốn tín dụng của Nhà nước tác động đến GRDP
 
Biến độc lập Hệ số Độ lệch chuẩn P-Value
- Hằng số
 
- X1 -3.369.613,651
(-0,418)
62,988
(6,341) 8.060.416,952
 
9,934 0,68016
 
0,00000
Nguồn: Tính toán tổng hợp của tác giả
 
Với độ tin cậy 95%, từ kết quả mô hình hồi quy cho thấy, GDP phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau nhưng trong đó vốn tín dụng của Nhà nước được xem xét chủ yếu. Vì vậy mô hình hồi quy có dạng: 
Y3 = -3.369.613,651 + 62,988X1 + 
Ta có kết quả ước lượng R2 = 0,6569, điều này có ý nghĩa là 65,69% sự thay đổi của GRDP là do vốn tín dụng của Nhà nước tác động đến.
Từ kết quả mô hình ước lượng, ta có: F = 40,205 và sigF = 0,00000 < 0,05. Điều này nói lên mô hình hồi quy này có ý nghĩa. Tức là có sự tương quan giữa GRDP và vốn tín dụng của Nhà nước.
Ngoài ra, ta có giá trị kiểm định t = 6,341 và giá trị P-Value = 0,00000 < 0,05. Điều này chứng tỏ, chúng ta có đầy đủ bằng chứng để bác bỏ giả thiết H0 và chấp nhận giả thiết H1. Điều này có nghĩa là vốn tín dụng của Nhà nước có tác động đến GRDP. 
Mặt khác, với hệ số của vốn tín dụng của Nhà nước c1 = 62,988, nó có ý nghĩa là khi vốn tín dụng của Nhà nước được giải ngân làm tăng thêm dư nợ 1 tỷ đồng thì GRDP tăng lên 62,988 tỷ đồng. Tức là, vốn tín dụng của Nhà nước đã tác động đến GRDP và làm cho GRDP ngày càng tăng góp phần phát triển KT-XH trên địa bàn Tỉnh. 
Vì vậy, vốn tín dụng của Nhà nước ngày càng có vai trò và vị trí quan trọng trong quá trình tăng trưởng của GRDP và nó là động lực thu hút các nguồn lực trong xã hội tham gia đầu tư góp phần phát triển KT-XH bền vững trên địa bàn Tỉnh.
3.4. Đánh giá vốn tín dụng của Nhà nước tác động đến kim ngạch xuất khẩu của Tỉnh
Nghiên cứu sẽ sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để xem xét vốn tín dụng của Nhà nước tác động đến kim ngạch xuất khẩu như thế nào?
Mô hình hồi quy tuyến tính có dạng: Y4 = d0 + d1X1 + 
Với giả thiết được đặt ra: 
- H0: Vốn tín dụng của Nhà nước không tác động đến sự tăng trưởng của kim ngạch xuất khẩu (KNXK).
- H1: Vốn tín dụng của Nhà nước có tác động đến sự tăng trưởng của KNXK.
Trong đó:
Y4: Giá trị kim ngạch xuất khẩu (Triệu đồng)
X1: Vốn tín dụng của Nhà nước (Triệu đồng)
: Sai số (các yếu tố khác ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu)
Bảng 4: Kết quả đánh giá tín dụng của Nhà nước tác động đến kim ngạch xuất khẩu
Biến độc lập Hệ số Độ lệch chuẩn P-Value
- Hằng số
 
- X1 464.207,485
(0,272)
9,631
(4,584) 1.704.698,318
 
2,101 0,78804
 
0,00016
Nguồn: Tính toán tổng hợp của tác giả
Với độ tin cậy 95%, từ kết quả mô hình hồi quy cho thấy, kim ngạch xuất khẩu phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau nhưng trong đó vốn tín dụng của Nhà nước được xem xét chủ yếu. Vì vậy mô hình hồi quy có dạng: 
Y4 = 464.207,485 + 9,631X1 + 
Ta có kết quả ước lượng R2 = 0,5001, điều này có ý nghĩa là 50,01% sự thay đổi của giá trị kim ngạch xuất khẩu là do vốn tín dụng của Nhà nước tác động đến.
Từ kết quả mô hình ước lượng, ta có: F = 21,013 và sigF = 0,00016 < 0,05. Điều này nói lên mô hình hồi này có ý nghĩa. Tức là có sự tương quan giữa kim ngạch xuất khẩu và vốn tín dụng của Nhà nước.
Ngoài ra, ta có giá trị kiểm định t = 4,584 và giá trị P-Value = 0,00016 < 0,05. Điều này chứng minh, chúng ta có đầy đủ bằng chứng để bác bỏ giả thiết H0 và chấp nhận giả thiết H1. Điều này nói lên vốn tín dụng của Nhà nước có tác động đến kim ngạch xuất khẩu. 
Mặt khác, với hệ số ước lượng của vốn tín dụng của Nhà nước d1 = 9,631, nó có ý nghĩa là khi vốn tín dụng của Nhà nước được giải ngân làm tăng thêm dư nợ 1 tỷ đồng thì tác động đến giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng lên 9,9631 tỷ đồng. Tức là, vốn tín dụng của Nhà nước đã tác động đến kim ngạch xuất khẩu và làm cho kim ngạch xuất khẩu ngày càng gia tăng giúp phát huy tiềm năng kinh tế biển trên địa bàn Tỉnh nhằm đạt mục tiêu phát triển bền vững kinh tế biển. Vì vậy, vốn tín dụng của Nhà nước ngày càng có vai trò và vị trí quan trọng trong quá trình sản xuất ra nhiều sản phẩm để xuất khẩu góp phần vào tăng trưởng của kim ngạch xuất khẩu, tạo động lực cho các ngành có liên quan phát triển và phát huy tiềm năng kinh tế biển trên địa bàn Tỉnh.
Kết luận
Qua kết quả phân tích trên cho thấy, vốn tín dụng của Nhà nước đã tác động đến tổng vốn đầu tư toàn xã hội, lao động xã hội đang làm việc, GRDP và kim ngạch xuất khẩu của Tỉnh. Do đó, khi cơ chế chính sách tín dụng của Nhà nước thay đổi sẽ ảnh hưởng đến quá trình đầu tư của xã hội, tạo thêm công ăn việc làm cho người dân, tăng trưởng GRDP và tăng trưởng giá trị kim ngạch xuất khẩu.
Mặt khác, trong thời gian qua tổng vốn đầu tư toàn xã hội, lao động xã hội, GRDP, giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng lên qua từng năm là do vốn tín dụng của Nhà nước đã đóng góp một phần không nhỏ vào quá trình tăng tổng vốn đầu tư toàn xã hội để tham gia đầu tư; tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người dân; tạo động lực phát triển ngành nghề, đầu tư dự án, chuyển dịch cơ cấu kinh tể để tạo ra nhiều sản phẩm nhằm thúc đẩy quá trình tăng trưởng GRDP và tăng trưởng giá trị kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn Tỉnh. 
Vì vậy, vốn tín dụng của Nhà nước ngày càng có vai trò và vị trí quan trọng trong quá trình đầu tư vào nền kinh tế và nó là nguồn vốn mồi để tạo động lực thu hút các nguồn lực trong xã hội tham gia vào quá trình đầu tư cho nền kinh tế nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế để phát triển KT-XH bền vững cho đất nước nói chung và tỉnh Kiên Giang nói riêng./.
Tìm theo ngày :

Khách online:17838
Lượt truy cập: 11700182